AACT (Antibiotic Allergy Clinical Tool)
Công cụ lâm sàng đánh giá dị ứng kháng sinh Chia sẻ
GIỚI THIỆU
Công cụ AACT (Antibiotic Allergy Clinical Tool) được xây dựng nhằm hỗ trợ bác sĩ trong việc đánh giá và phân tầng nguy cơ dị ứng kháng sinh một cách hệ thống, từ đó tối ưu hóa lựa chọn kháng sinh, nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho người bệnh.
Việc lựa chọn kháng sinh cho bệnh nhân có tiền sử dị ứng kháng sinh luôn là một thách thức trong thực hành lâm sàng, đặc biệt trong các tình huống cần đưa ra quyết định nhanh chóng. Dị ứng kháng sinh β-lactam là một vấn đề thường gặp, tuy nhiên tỷ lệ dị ứng thực sự thấp hơn đáng kể so với những gì được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án(khoảng 90 – 95% người bệnh được gán nhãn “dị ứng penicillin” không thật sự bị dị ứng khi được làm các test chuyên sâu, chỉ có 5-10% được xác định dị ứng qua trung gian miễn dịch). Có nhiều nguyên nhân dẫn
đến gán nhãn dị ứng sai như: nhầm lẫn dị ứng với tác dụng phụ (ví dụ: nhầm tiêu chảy, đau đầu…là dị ứng) hay
do sự sợ hãi mang tính chủ quan từ người bệnh (ví dụ: có người thân bị sốc phản vệ với kháng sinh) … Việc ghi nhận không chính xác tình trạng dị ứng có thể dẫn đến sử dụng các kháng sinh thay thế kém tối ưu, làm gia tăng nguy cơ độc tính, chi phí điều trị và thúc đẩy tình trạng kháng kháng sinh. Ngoài ra, sự hiểu biết chưa đầy đủ về cơ chế dị ứng cũng như hiện tượng dị ứng chéo giữa các kháng sinh β-lactam tiếp tục là rào cản trong việc sử dụng thuốc một cách an toàn và hợp lý.
Công cụ AACT này được xây dựng chủ yếu dựa trên Hướng dẫn lâm sàng của European Society of Clinical Microbiology and Infectious Diseases(ESCMID clinical guidelines) 05/2026, hướng dẫn này cung cấp các khuyến cáo dựa trên bằng chứng về đánh giá lâm sàng và xử trí bệnh nhân có tiền sử dị ứng kháng sinh được báo cáo. Tài liệu này cũng hướng đến các bác sĩ không thuộc chuyên khoa dị ứng và nhằm chuẩn hóa thực hành lâm sàng giữa các cơ sở y tế tại châu Âu và các khu vực khác trên thế giới.
Kết quả thực hiện CDCT âm tính cho phép có thể gỡ bỏ nhãn dị ứng kháng sinh và sử dụng lại kháng sinh nghi ngờ và tất cả các kháng sinh khác cùng nhóm.
Chú thích:
(1) Bệnh nhân có phản ứng nghi ngờ kiểu tức thì không phù hợp để thực hiện test thử thách thuốc trong các trường hợp sau:
| Bảng 1. Nguyên tắc thực hiện test thử thách thuốc có kiểm soát (CDCT) |
|---|
| Nguyên tắc |
|
Chú thích:
(1) Bệnh nhân có phản ứng nghi ngờ kiểu tức thì không phù hợp để thực hiện test thử thách thuốc trong các trường hợp sau:
- Bệnh đường thở nặng hoặc không được kiểm soát
- Bệnh tim nặng, bao gồm hẹp van động mạch chủ
- Thai kỳ (Phụ nữ mang thai)
- Đang mắc bệnh cấp tính hoặc tình trạng lâm sàng không ổn định
- Không thể đưa ra sự đồng thuận có hiểu biết(đồng thuận điều trị)
- Đang sử dụng corticosteroid liều cao hoặc thuốc kháng histamine
- Sử dụng 10% liều đầy đủ của kháng sinh nghi ngờ (ví dụ: amoxicillin 50 mg ở người lớn); theo dõi trong 30 phút
- Sau đó sử dụng 50% liều đầy đủ (ví dụ: amoxicillin 250 mg ở người lớn); theo dõi trong 30 phút
- Tiếp theo sử dụng phần liều còn lại để đạt đủ liều đầy đủ (ví dụ: amoxicillin 200 mg ở người lớn); theo dõi trong 60 phút
Trong hướng dẫn ESCMID, định nghĩa về phản ứng tức thì và phản ứng muộn được tiếp nhận từ hướng dẫn đa chuyên ngành của Tây Ban Nha và bản cập nhật Tham số Thực hành Hoa Kỳ năm 2022.
Định nghĩa về phản ứng nặng hoặc không nặng (Bảng 2) được điều chỉnh từ hướng dẫn SWAB của Hà Lan, vốn sử dụng hệ thống phân loại dựa trên đồng thuận quốc tế, bao gồm các tiêu chuẩn của Tổ chức Dị ứng Thế giới/Học viện Dị ứng và Miễn dịch Lâm sàng Châu Âu (WAO/EAACI) và Hội đồng Các Tổ chức Quốc tế về Khoa học Y học (CIOMS).
Bảng này được điều chỉnh từ tài liệu hướng dẫn của WAO, tuyên bố lập trường của EAACI và tiêu chuẩn của CIOMS về phân loại các biểu hiện da trong quá mẫn thuốc.
| Bảng 2. Định nghĩa các biểu hiện nặng và không nặng của phản ứng dị ứng kháng sinh nghi ngờ | |||
|---|---|---|---|
| Mức độ | Theo triệu chứng của phản ứng (tiêu chuẩn WAO/EAACI) | HOẶC | Theo hậu quả của phản ứng (tiêu chuẩn CIOMS) |
| Nặng |
|
HOẶC | Các phản ứng gây tử vong, đe dọa tính mạng, gây nhập viện, dẫn đến tàn tật hoặc mất khả năng lao động dai dẳng/đáng kể, cần can thiệp để ngăn ngừa tổn thương vĩnh viễn, hoặc gây dị tật bẩm sinh |
| Không nặng |
|
HOẶC | Tất cả các hậu quả khác |
Bảng này được điều chỉnh từ tài liệu hướng dẫn của WAO, tuyên bố lập trường của EAACI và tiêu chuẩn của CIOMS về phân loại các biểu hiện da trong quá mẫn thuốc.
- AGEP: ngoại ban mụn mủ toàn thân cấp tính
- BP: huyết áp
- CIOMS: Hội đồng Các Tổ chức Quốc tế về Khoa học Y học
- DRESS: phát ban do thuốc kèm tăng bạch cầu ái toan và triệu chứng toàn thân
- EAACI: Học viện Dị ứng và Miễn dịch Lâm sàng Châu Âu
- PEF: lưu lượng đỉnh thở ra
- SJS: hội chứng Stevens–Johnson
- TEN: hoại tử thượng bì nhiễm độc
- WAO: Tổ chức Dị ứng Thế giới
Lưu đồ tiếp cận bệnh nhân dị ứng beta-lactam
Bảng 3 trình bày phân loại nguy cơ dị ứng chéo đối với các kháng sinh β-lactam, được tiếp nhận từ hướng dẫn SWAB của Hà Lan.
Lưu đồ tiếp cận dị ứng với thuốc không phải beta-lactam
Các Bác sĩ, Dược sĩ có thể khai thác đầy
đủ các khía cạnh của một trường hợp dị ứng thuốc theo công cụ 6M được đề xuất bởi Trường môn Dược lâm
sàng Mỹ - ACCP (Bảng 4). Cần lưu ý rằng: tình trạng dị ứng với kháng sinh qua trung gian IgE sẽ mất dần, do các kháng thể IgE đặc
hiệu với thuốc có xu hướng giảm dần theo thời gian một cách tự nhiên. Cụ thể, sau 5 – 10 năm kể từ khi ghi nhận
dị ứng, 50 – 80% người bệnh dị ứng penicillin qua trung gian IgE không còn gặp phản ứng quá mẫn. Trong
khi đó, các phản ứng trên da nghiêm trọng (SCAR) không biến mất theo thời gian do nó gây ra bởi tế bào lympho
T có “tuổi thọ” rất dài. Vì vậy, những trường hợp được xác định phản ứng trên da nghiêm trọng gần như
không thể dùng lại thuốc và cần được thăm khám bởi chuyên gia miễn dịch dị ứng.
| Khai thác tiền sử dị ứng theo công cụ 6M | ||
|---|---|---|
| 6M | Ý nghĩa | Mô tả |
| Medication | Tên thuốc | Xác định tên chính xác của thuốc nghi ngờ gây phản ứng và tất cả các thuốc dùng đồng thời (nếu có) |
| Memory | Thời điểm xảy ra | Khoảng thời gian xảy ra phản ứng: > 5 năm hay < 5 năm ? |
| Manifestation | Biểu hiện | Mô tả triệu chứng: trên da (mày đay, phát ban), hô hấp (khó thở), tim mạch
(tụt huyết áp). Lưu ý các dấu hiệu nguy hiểm của SCAR như: bong tróc da; thay đổi màu sắc da: đỏ sẫm, tím; cảm giác đau đớn, bỏng rát; tổn thương niêm mạc; sốt… Trả lời câu hỏi: phản ứng dị ứng nặng hay không nặng ? (theo Bảng 2) |
| Moment | Thời điểm khởi phát | Thời gian từ lúc dùng thuốc đến khi xuất hiện triệu chứng:
|
| Management | Xử trí | Có cần can thiệp y tế không. Ví dụ: nhập viện, dùng adrenalin, corticoid… |
| More | Tiếp xúc sau biến cố | Đã dùng lại thuốc đó hoặc thuốc cùng nhóm chưa? Phản ứng tái phát không? Ví dụ: 1 năm sau khi xảy ra phản ứng có điều trị viêm phổi bằng ceftriaxone, không xảy ra phản ứng gì. |
